upper folder
loosely-translated/
“Married”
- Jack Gilbert I came back from the funeral and crawled around the apartment crying hard, searching for my wife’s hair. For two months got them from the drain, the vacuum cleaner, under the refrigerator and off the clothes in the closet. But after other Japanese women came there was no way to be sure which were hers and I stopped. A year later, repotting Michiko’s avocado, I find this long black hair tangled in the dirt. ~ đã cưới Tôi trở về từ tang lễ và bò quanh căn hộ khóc thảm thiết, tìm những sợi tóc vợ tôi. Suốt hai tháng tôi tìm thấy chúng từ rãnh, từ máy hút bụi, bên dưới tủ lạnh và trên quần áo trong tủ để đồ. Nhưng sau khi những người phụ nữ Nhật khác tới chẳng cách nào biết chắc rằng sợi nào của nàng, nên tôi thôi. Một năm sau, khi thay chậu cho cây bơ của Michiko, tôi tìm thấy vướng trong bùn đất sợi tóc đen dài này.
Alone
- Jack Gilbert I never thought Michiko would come back after she died. But if she did, I knew it would be as a lady in a long white dress. It is strange that she has returned as somebody's dalmatian. I meet the man walking her on a leash almost every week. He says good morning and I stoop down to calm her. He said once that she was never like that with other people. Sometimes she is tethered on their lawn when I go by. If nobody is around, I sit on the grass. When she finally quiets, she puts her head in my lap and we watch each other's eyes as I whisper in her soft ears. She cares nothing about the mystery. She likes it best when I touch her head and tell her small things about my days and our friends. That makes her happy the way it always did. ~ một mình chưa bao giờ tôi nghĩ Michiko sẽ trở lại sau khi nàng qua đời. Nhưng nếu nàng có, thì tôi biết nàng sẽ là quý cô trong bộ váy trắng dài. Thật kì lạ khi nàng đã trở lại dưới hình hài con chó đốm của một ai. Tôi gặp người đàn ông dắt nàng đi dạo bằng dây xích gần như mỗi tuần. Ông nói chào buổi sáng còn tôi cúi xuống dỗ dành nàng. Ông từng nói có lần rằng nàng chưa bao giờ như vậy với ai khác. Đôi khi nàng được buộc trên bãi cỏ nhà họ khi tôi đi ngang qua. Nếu không ai ở đó, tôi sẽ ngồi lên cỏ. Khi nàng rốt cuộc cũng yên lặng, nàng gối đầu vào lòng tôi và chúng tôi dõi theo mắt nhau khi tôi thầm thì vào đôi tai nàng mềm mại. Nàng chẳng bận tâm gì bí ẩn này. Nàng thích nhất khi tôi xoa đầu nàng và kể nàng những chuyện nhỏ nhặt về ngày của tôi và bạn bè của chúng tôi. Điều đó khiến nàng vui như cách nó vẫn luôn làm.
blessing the boats
- Lucille Clifton (at St. Mary's) may the tide that is entering even now the lip of our understanding carry you out beyond the face of fear may you kiss the wind then turn from it certain that it will love your back may you open your eyes to water water waving forever and may you in your innocence sail through this to that ~ chúc phúc những con thuyền (tại St. Mary) mong con nước ngay lúc này tràn vào bờ môi sự hiểu biết đưa người qua bên kia gương mặt nỗi sợ mong người hôn cơn gió rồi quay lưng với nó biết chắc rằng nó sẽ thương tấm lưng người mong người mở mắt trông ra con nước con nước xô muôn đời và mong người trong thơ ngây vượt đây qua đó
Burning the Old Year
- Naomi Shihab Nye Letters swallow themselves in seconds. Notes friends tied to the doorknob, transparent scarlet paper, sizzle like moth wings, marry the air. So much of any year is flammable, lists of vegetables, partial poems. Orange swirling flame of days, so little is a stone. Where there was something and suddenly isn’t, an absence shouts, celebrates, leaves a space. I begin again with the smallest numbers. Quick dance, shuffle of losses and leaves, only the things I didn’t do crackle after the blazing dies. ~ đốt năm tháng xưa những lá thư tự nuốt mình trong giây lát. những lời nhắn bè bạn buộc lên tay nắm cửa, giấy mỏng màu đỏ tươi, xèo xèo như cánh ngài, bén duyên cùng không khí. phần nhiều của năm là dễ cháy, danh sách rau củ, những bài thơ dở dang. ngọn lửa xoáy cam của tháng ngày, phần ít là hòn đá. nơi từng có gì đó rồi đột nhiên không, sự vắng mặt gào thét, ca tụng, chừa một khoảng trống. tôi lại bắt đầu cùng những con số nhỏ nhất. điệu nhảy chóng vánh, sự xáo trộn của mất mát và từ giã, chỉ những gì tôi chưa làm lách tách nổ sau khi ngọn lửa tàn.
Closing Time; Iskandariya
- Brigit Pegeen Kelly It was not a scorpion I asked for, I asked for a fish, but maybe God misheard my request, maybe God thought I said not "some sort of fish," but a "scorpion fish," a request he would surely have granted, being a goodly God, but then he forgot the "fish" attached to the "scorpion" (because God, too, forgets, everything forgets); so instead of an edible fish, any small fish, sweet or sour, or even the grotesque buffoonery of the striped scorpion fish, crowned with spines and followed by many tails, a veritable sideshow of a fish; instead of these, I was given an insect, a peculiar prehistoric creature, part lobster, part spider, part bell-ringer, part son of a fallen star, something like a disfigured armored dog, not a thing you can eat, or even take on a meaningful walk, so ugly is it, so stiffly does it step, as if on ice, freezing again and again in mid-air like a listening ear, and then scuttling backwards or leaping madly forward, its deadly tail doing a St. Vitus jig. God gave me a scorpion, a venomous creature, to be sure, a bug with the bite of Cleopatra's asp, but not, as I soon found out, despite the dark gossip, a lover of violence or a hater of men. In truth, it is shy, the scorpion, a creature with eight eyes and almost no sight, who shuns the daylight, and is driven mad by fire, who favors the lonely spot, and feeds on nothing much, and only throws out its poison barb when backed against a wall -- a thing like me, but not the thing I asked for, a thing, by accident or design, I am now attached to. And so I draw the curtains, and so I lay out strange dishes, and so I step softly, and so I do not speak, and only twice, in many years, have I been stung, both times because, unthinking, I let in the terrible light. And sometimes now, when I watch the scorpion sleep, I see how fine he is, how rare, this creature called Lung Book or Mortal Book because of his strange organs of breath. His lungs are holes in his body, which open and close. And inside the holes are stiffened membranes, arranged like the pages of a book -- imagine that! And when the holes open, the pages rise up and unfold, and the blood that circles through them touches the air, and by this bath of air the blood is made pure . . . He is a house of books, my shy scorpion, carrying in his belly all the perishable manuscripts -- a little mirror of the library at Alexandria, which burned. ~ giờ đóng cửa, Iskandariya bọ cạp không phải điều tôi hỏi xin, tôi đã hỏi xin một con cá, nhưng có thể Chúa nghe nhầm lời thỉnh cầu, có lẽ Chúa nghĩ tôi nói không phải "bất cứ loại cá nào", mà là một con "cá bọ cạp", một thỉnh cầu Người chắc chắn sẽ ban, bởi Người là một vị thần nhân hậu, nhưng rồi Người quên rằng từ "cá" gắn liền với từ "bọ cạp" (bởi Chúa cũng quên, mọi vật đều quên); cho nên thay vì một con cá có thể ăn được, bất kì con cá nhỏ nào, ngọt hay chua, hay ngay cả cái trò hề lố bịch là con cá bọ cạp sọc, đội mũ miện bằng gai và theo sau bởi nhiều cái đuôi, một phường chèo thực sự; thay vì những điều này, tôi được ban cho một con côn trùng, một sinh vật kỳ dị thời tiền sử, một phần tôm hùm, một phần nhện, một phần người rung chuông, một phần con trai của vì sao sa ngã, thứ gì đó như thể con chó bọc thép biến dạng, không phải thứ bạn có thể ăn, hay thậm chí dẫn theo trong cuộc dạo bộ đầy ý nghĩa, nó thật xấu xí, bước đi cứng nhắc, như thể trên băng, đóng đông hết lần này tới lần khác giữa không trung như một cái tai đang nghe ngóng, rồi chạy thụt lùi hay lao tới cuồng điên, cái đuôi chết chóc nhảy tung tăng như mắc chứng múa giật. Chúa đã ban cho tôi con bọ cạp, một sinh vật có nọc, hẳn vậy, một con bọ với cú ngoạm của con rắn hổ mang của Cleopatra, nhưng không, như tôi sớm nhận ra, bất chấp những lời đồn đại tăm tối, nó không phải một kẻ yêu bạo lực và căm thù loài người. Thực ra, nó rụt rè, cái con bọ cạp ấy, một sinh vật tám mắt và gần như không có thị lực, kẻ lánh xa ánh sáng ban ngày, và bị lửa làm cho phát rồ, kẻ ưa chốn hiu quạnh, ăn thì chẳng bao nhiêu, chỉ quăng ra ngạnh độc khi bị dồn vào chân tường -- một thứ giống tôi, nhưng không phải thứ tôi đã xin hỏi, một thứ, do vô tình hay cố ý, mà tôi giờ đây gắn bó cùng. Và thế là tôi kéo rèm lại, và thế là tôi bày ra những món lạ lùng, thế là tôi bước thật êm, thế là tôi thôi cất lên tiếng nói, trong nhiều năm chỉ hai lần tôi bị chích, cả hai lần đều vì, thiếu suy nghĩ, tôi để lọt ánh sáng kinh hoàng vào. Giờ đây đôi lúc, khi ngắm bọ cạp ngủ, tôi mới thấy cậu ta đẹp đẽ thế nào, hiếm có ra sao, sinh vật này được gọi là Phổi Sách hay Sách Tử Thần vì những cơ quan hô hấp lạ kỳ của cậu. Phổi của cậu là những lỗ trên thân, mở ra rồi khép lại. Trong các lỗ đó là những màng cứng, được bố trí như các trang của một cuốn sách -- tưởng tượng mà xem! Và khi các lỗ mở ra, những trang giấy dựng lên rồi trải ra, và dòng máu tuần hoàn qua chúng xúc chạm cùng không khí, nhờ vào việc tắm trong không khí mà máu được làm sạch... Cậu ấy là ngôi nhà của những cuốn sách, chú bọ cạp nhút nhát của tôi, mang trong bụng mình tất cả các bản thảo dễ tàn lụi -- hình ảnh thu nhỏ của thư viện Alexandria, nơi đã bị thiêu trụi.
Don't Hesitate
- Mary Oliver If you suddenly and unexpectedly feel joy, don’t hesitate. Give in to it. There are plenty of lives and whole towns destroyed or about to be. We are not wise, and not very often kind. And much can never be redeemed. Still, life has some possibility left. Perhaps this is its way of fighting back, that sometimes something happens better than all the riches or power in the world. It could be anything, but very likely you notice it in the instant when love begins. Anyway, that’s often the case. Anyway, whatever it is, don’t be afraid of its plenty. Joy is not made to be a crumb. ~ Đừng chần chừ Nếu bỗng dưng bất chợt bạn cảm thấy niềm vui, đừng chần chừ. Hãy nhượng bộ. Có vô vàn cuộc đời và hết thảy các thị trấn đã hoặc sắp bị tàn phá. Ta không khôn ngoan, và chẳng mấy khi tử tế. Nhiều điều có thể chẳng bao giờ được bù đắp. Ấy vậy, cuộc đời vẫn chừa lại vài khả năng. Có lẽ đây là cách nó phản kháng, rằng đôi khi xảy đến điều gì đó tốt đẹp hơn tất cả những của cải hay quyền lực trên thế gian. Có thể là bất kể điều gì, nhưng chắc bạn thường nhận ra nó ngay khi tình yêu mới chớm. Dù gì, chuyện thường là thế. Dẫu sao, bất kể là gì, đừng e sợ sự dư dả nơi nó. Niềm vui đâu được sinh ra để chỉ là mẩu vụn.
for M
- Mikko Harvey I don’t want you to be nervous. Maybe thinking of a walrus would help. Have you seen the video of the penguin accidentally stepping on a sleeping walrus? It thought it was a rock. The walrus wakes up like what the fuck and the penguin scurries off like oh shit. Sometimes it’s funny watching a surprise happen, and not just funny but kind of amazing — like, you never really know what’s what when it comes to this planet. Then again, when it’s you getting surprised, that’s different. Especially for tender ones like us. What are we supposed to do? It’s bad for our hearts, you know. I hope you won’t need pills like I do. I think I get so scared because I’m greedy — I want to hold onto everything, the world wants to take it away. What the fuck. The number of hours we have together is actually not so large. Please linger near the door uncomfortably instead of just leaving. Please forget your scarf in my life and come back later for it. ~ gửi M tôi không muốn bạn trở nên lo lắng. Có khi nghĩ về một con hải mã sẽ đỡ hơn chăng. Bạn đã xem cái video về con cánh cụt vô tình giẫm lên con hải mã đang ngủ chưa? Nó nghĩ đó là một tảng đá. Con hải mã tỉnh dậy kiểu cái quái gì vậy và con cánh cụt chạy tán loạn kiểu thôi xong. Đôi lúc thật nực cười khi chứng kiến một điều bất ngờ xảy tới, và không chỉ nực cười mà còn khá là sửng sốt - kiểu, bạn không bao giờ thực sự biết cái gì là cái gì khi nói đến hành tinh này. Rồi lại nữa, khi bạn là người bị bất ngờ, thì đó là chuyện khác. Đặc biệt với những kẻ nhạy cảm như ta. Chúng ta phải làm gì đây? Điều đó không tốt cho trái tim ta, bạn hiểu mà. Tôi hy vọng bạn sẽ không cần những viên thuốc như tôi cần. Tôi nghĩ tôi đã thật sợ hãi bởi tôi tham lam – tôi muốn níu giữ mọi thứ, thế gian thì muốn lấy hết đi. Cái quái gì. Con số những giờ ta có cùng nhau không thực sự nhiều. Xin hãy chần chừ dù khó chịu bên cánh cửa thay vì cứ vậy rời đi. Xin hãy để quên chiếc khăn của bạn trong cuộc đời tôi và quay lại sau vì nó.
Handfuls
- hua xi i toss a handful into the air. a handful of nonspecific stuff. what is this that my hands are tossing? i'm tossing handfuls of snow into the air. where am I getting all this snow on a summer's day? it must come from somewhere inside me. i'm tossing handfuls of somewhere everywhere, all the way up into the air, and it's flitting down and amassing atop the immaculate townships. tin roofs. Church steeples. Lines of parked cars. summer is a pure lone mountain. somehow, a winter flowers against an enormous blue loneliness as a figure wilts far below and wonders, how can snow fall without falling in love? wherever I go, my furthest thoughts are lightly billowing. whatever is buried within me, I keep pulling out in tufts. i hope that when I feel cold, you can feel what I feel but without feeling any cold. because I have struggled to do so, i choose to believe that not all sadness comes from somewhere. the sadness that comes from somewhere drifts down and mixes with the sadness that isn't from anywhere. all of us are ordinary people. None of us can escape the difficult nature of being thrown away by a warm afternoon in winter. ~ những nắm tôi tung một nắm vào không trung. một nắm những thứ không cụ thể. đôi tay tôi đang tung những gì? tôi đang tung những nắm tuyết vào không khí. vào một ngày hè tôi có chỗ tuyết này từ đâu? nó hẳn đến từ nơi nào đó trong tôi. tôi đang tung những nắm của nơi nào đó ra khắp mọi nơi, lên tít tận trời, rồi rơi vụt xuống và chất đống trên những thị trấn tinh khôi. những mái tôn. Những tháp chuông nhà thờ. Những hàng xe đậu. mùa hè là trái núi bơ vơ trong trẻo. theo cách nào đó, một mùa đông nở ra giữa mênh mông xanh thẳm cô đơn khi một hình hài hao mòn bên dưới tự hỏi, làm sao tuyết có thể rơi mà không rớt vào yêu? bất kể nơi nào tôi đi, những suy tư xa xôi nhất nhẹ dâng cuồn cuộn. bất kể điều gì chôn vùi trong mình, tôi cứ lôi ra thành từng búi. tôi hy vọng khi tôi lạnh, bạn có thể cảm nhận những gì tôi cảm nhận mà không thấy lạnh. bởi đã chật vật để làm vậy, tôi lựa chọn tin rằng chẳng phải mọi nỗi buồn đều đến từ đâu đó. những nỗi buồn đến từ đâu đó dạt xuống và hòa lẫn với những nỗi buồn không đến từ bất kì đâu. tất cả chúng ta đều là người thường. Không ai trong ta tránh được bản chất khó khăn của việc bị vứt bỏ bởi một buổi chiều ấm áp vào mùa đông.
Here Together
- W. S. Merwin These days I can see us clinging to each other as we are swept along by the current I am clinging to you to keep you from being swept away and you are clinging to me to keep me from being swept away from you we see the shores blurring past as we hold each other in the rushing current the daylight rushes unheard far above us how long will we be swept along in the daylight how long will we cling together in the night and where will it carry us together ~ đây cùng nhau những ngày này anh trông thấy ta níu lấy nhau trong khi ta bị cuốn trôi theo con nước anh níu chặt em để giữ em khỏi bị cuốn đi và em níu chặt anh để giữ anh không bị cuốn đi khỏi em ta nhìn những bờ bãi nhòe trôi khi ta giữ chặt lấy nhau trong con nước vội vàng ánh dương đổ xô nơi xa xôi trên ta đâu ai hay ta còn bị cuốn trôi trong ánh dương bao lâu đây ta còn níu lấy nhau trong đêm tối tới khi nào rồi nó sẽ đưa ta cùng nhau về đâu đây
I Am Learning to Abandon the World
- Linda Pastan I am learning to abandon the world before it can abandon me. Already I have given up the moon and snow, closing my shades against the claims of white. And the world has taken my father, my friends. I have given up melodic lines of hills, moving to a flat, tuneless landscape. And every night I give my body up limb by limb, working upwards across bone, towards the heart. But morning comes with small reprieves of coffee and birdsong. A tree outside the window which was simply shadow moments ago takes back its branches twig by leafy twig. And as I take my body back the sun lays its warm muzzle on my lap as if to make amends. ~ Tôi đang học cách từ bỏ thế giới trước khi nó có thể từ bỏ tôi. Tôi đã từ bỏ được ánh trăng và tuyết rồi, khép bóng mình chống lại những đòi hỏi của màu trắng. Và thế giới đã lấy mất cha tôi, bạn bè tôi. Tôi đã từ bỏ nét du dương của những ngọn đồi, chuyển tới nơi cảnh quan bằng phẳng, không giai điệu. Và đêm đêm thân thể mình tôi từ bỏ từng chi từng chi, lên dần qua xương, hướng về tim. Nhưng bình minh đến cùng những ân xá nhỏ bé thôi của cà phê và tiếng chim ca. Bên ngoài ô cửa sổ một cái cây mới lúc trước còn đơn thuần là cái bóng đang giành lại của nó các cành từng nhánh từng nhánh lá. Và trong khi tôi giành lại thân thể mình ánh dương đặt chiếc mõm ấm áp vào lòng tôi tựa như để chuộc lỗi.
i am running into a new year
- Lucille Clifton i am running into a new year and the old years blow back like a wind that i catch in my hair like strong fingers like all my old promises and it will be hard to let go of what i said to myself about myself when i was sixteen and twentysix and thirtysix even thirtysix but i am running into a new year and i beg what i love and i leave to forgive me ~ tôi đang lao vào năm mới và tháng năm cũ ào về như cơn gió vương trong tóc tôi như những ngón tay rắn rỏi như hết thảy những hẹn ước của tôi ngày trước và sẽ khó để buông trôi những gì tôi đã nói với tôi về chính mình khi còn mười sáu và khi hai sáu rồi ba sáu thậm chí đã ba mươi sáu nhưng tôi vẫn lao vào năm mới và van nài những gì tôi thương và tôi bỏ lại xin thứ lỗi cho tôi
I Asked I Got
- Gabrielle Bates after Brigit Pegeen Kelly for honey: gravel in a thousand shaken cans for genius: the dream in which my grandmother cooks two eggs for an understanding of the past: a boat crossing the window; the room sliding backward for attention: anything ripped in the middle looks for a mother to be honest: Sharon Olds / Lucille Clifton / Brigit (is it OK if I call you...) for another life, adjacent, and wilder: trapped clouds in the plant conservatory for a doorway: a beautiful woman, backlit, eating cornbread off a knife ~ tôi hỏi // tôi nhận được phỏng theo Brigit Pegeen Kelly xin mật ong: sỏi đá trong ngàn chiếc lon rung lắc xin tài năng: giấc mơ nơi bà tôi nấu hai quả trứng xin sự thông hiểu về quá khứ: con thuyền băng qua ô cửa; căn phòng trôi ngược về sau xin sự chú ý: bất kì thứ gì rách toạc lưng chừng đều trông xin một người mẹ chân thành: Sharon Olds / Lucille Clifton / Brigit (có được không nếu con gọi người là...) xin một cuộc đời khác, liền sát, và hoang dại hơn: những đám mây mắc kẹt trong nhà kính xin một lối đi: người đàn bà đẹp, ngược sáng, ăn bánh mì bắp từ lưỡi dao
Merry Christmas from Hegel
- Anne Carson It was the year my brother died, I lived up north and had few friends or they all went away. Christmas Day I was sitting in my armchair, reading something about Hegel. You will forgive me if you are someone who knows a lot of Hegel or understands it, I do not and will paraphrase badly, but I understood him to be saying he was fed up with popular criticism of his terrible prose and claiming that conventional grammar, with its clumsy dichotomy of subject and verb, was in conflict with what he called ‘speculation’. Speculation being the proper business of philosophy. Speculation being the effort to grasp reality in its interactive entirety. The function of a sentence like ‘Reason is Spirit’ was not to assert a fact (he said) but to lay Reason side by side with Spirit and allow their meanings to tenderly mingle in speculation. I was overjoyed by this notion of a philosophic space where words drift in gentle mutual redefinition of one another but, at the same time, wretchedly lonely with all my family dead and here it was Christmas Day, so I put on big boots and coat and went out to do some snow standing. Not since childhood! I had forgot how astounding it is. I went to the middle of a woods. Fir trees, the teachers of this, all around. Minus twenty degrees in the wind but inside the trees is no wind. The world subtracts itself in layers. Outer sounds like traffic and shoveling vanish. Inner sounds become audible, cracks, sighs, caresses, twigs, birdbreath, toenails of squirrel. The fir trees move hugely. The white is perfectly curved, stunned with itself. Puffs of ice fog and some gold things float up. Shadows rake their motionlessness across the snow with a vibration of other shadows moving crosswise on them, shadow on shadow, in precise velocities. It is very cold, then that, too, begins to subtract itself, the body chills on its surface but the core is hot and it is possible to disconnect the surface, withdraw to the core, where a ravishing peace flows in, so ravishing I am unembarrassed to use the word ravishing, and it is not a peace of separation from the senses but the washing-through peace of looking,listening, feeling, at the very core of snow, at the very core of the care of snow. It has nothing to do with Hegel and he would not admire the clumsily conventional sentences in which I have tried to tell about it but I suspect, if I hadn’t been trying on the mood of Hegel’s particular grammatical indignation that Christmas Day, I would never have gone out to stand in the snow, or stayed to speculate with it, or had the patience to sit down and make a record of speculation for myself as if it were a worthy way to spend an afternoon, a plausible way to change the icy horror of holiday into a sort of homecoming. Merry Christmas from Hegel. ~ lời chúc giáng sinh từ hegel đó là năm anh tôi qua đời. Tôi sống trên phía bắc và chẳng mấy bạn bè hoặc họ đều đã rời xa. Hôm Giáng sinh tôi ngồi nơi chiếc ghế bành của mình, đọc gì đấy về Hegel. Bạn hãy bỏ qua cho tôi nếu bạn là người biết nhiều về Hegel hoặc am tường ông, tôi thì không và ắt sẽ diễn giải một cách tệ hại, nhưng tôi hiểu rằng ông nói bản thân đã chán ngán với những chỉ trích của đại chúng về kiểu văn phong dở tệ của mình, và quả quyết rằng ngữ pháp quy phạm, với sự phân chia vụng về giữa chủ ngữ và động từ của nó, đang trong mâu thuẫn với cái ông gọi là “tư biện”. “Tư biện” là vấn đề đích đáng của triết học. Tư biện là nỗ lực hiểu thấu thực tại trong trạng thái toàn vẹn mang tính tương tác của nó. Chức năng của một câu kiểu “Lý trí là tinh thần” không phải để khẳng định một sự thật (ông nói) mà là để đặt Lý trí sát bên Tinh thần và cho phép ý nghĩa của chúng hoà quyện với nhau thật dịu dàng trong tư biện. Tôi vui mừng khôn xiết trước ý niệm về một không gian triết học nơi từ ngữ buông trôi trong sự tái định nghĩa lẫn nhau một cách hòa nhã nhưng, đồng thời, thấy bơ vơ khôn cùng khi hết thảy người thân của mình đã mất và nay là lễ Giáng sinh, vậy nên tôi đi đôi giày ủng lớn và mặc áo khoác và ra ngoài để đứng một chút trong tuyết. Chưa một lần kể từ ngày thơ ấu! Tôi đã quên nó đáng kinh ngạc thế nào. Tôi đến giữa một khu rừng. Những cây lãnh sam, những người thầy trong chuyện này, ở khắp chung quanh. Âm hai mươi độ trong gió nhưng trong rặng cây thì lặng gió. Vạn vật rũ mình theo từng lớp lang. Những tiếng động bên ngoài chẳng hạn tiếng xe cộ hay tiếng xúc tuyết chợt tiêu tan. Những thanh âm bên trong thành ra có thể nghe thấy rõ, những vết rạn, những thở dài, những ve vuốt, nhành cây, hơi thở của chim, móng chân tụi sóc. Rặng lãnh sam trở mình lớn lao. Cái sắc trắng uốn cong hoàn hảo, sững sờ trước chính nó. Những luồng sương băng và mấy thứ ánh vàng trôi lơ lửng. Những chiếc bóng khều nỗi im lìm nơi mình ngang qua tuyết bằng sự lay động từ chính mấy chiếc bóng khác đang chạy xiên lên chúng, bóng chồng bóng, với tốc độ chuẩn xác. Trời rất lạnh; rồi thì cả điều đó, cũng vậy, bắt đầu rũ mình, cơ thể ớn lạnh nơi bề mặt của nó nhưng trong lòng thì nóng và nó có thể ngắt khỏi bề mặt, để lui về trong lòng, nơi một sự bình yên mê đắm đang ùa vào, thật mê đắm tới độ tôi chẳng ngại ngùng dùng từ “mê đắm”, và đó không phải là sự yên bình của việc tách rời khỏi các giác quan mà là sự yên bình tràn ngập của nhìn ngắm, lắng nghe, cảm nhận, chính trong lòng của tuyết, chính trong lòng của sự chú tâm tới tuyết. Điều này chẳng can hệ gì tới Hegel và ông cũng sẽ không ngợi khen những câu cú quy ước dài dòng mà tôi đã cố kể về nó nhưng tôi ngờ rằng, nếu mình không thử mang cái tâm trạng phẫn nộ của riêng Hegel về ngữ pháp vào ngày Giáng sinh hôm ấy, tôi đã chẳng đời nào ra ngoài để đứng trong tuyết, hoặc nán lại để tư biện cùng nó, hoặc đủ kiên nhẫn để ngồi xuống và ghi lại sự tư biện đó cho chính mình như thể là đấy là cách xứng đáng để sống qua một buổi chiều, cách hợp lý để thế nỗi khiếp đảm lạnh lẽo của kỳ nghỉ lễ bằng một thứ tựa như sự trở về. Lời chúc mừng Giáng sinh từ Hegel.
Michiko Nogami (1946–1982)
- Jack Gilbert Is she more apparent because she is not anymore forever? Is her whiteness more white because she was the color of pale honey? A smokestack making the sky more visible. A dead woman filling the whole world. Michiko said, “The roses you gave me kept me awake with the sound of their petals falling.” ~ Michiko Nogami (1946–1982) có phải nàng thêm hiện hữu bởi nàng mãi không còn? Có phải sự trắng trong nơi nàng thêm trắng bởi nàng từng mang màu mật nhạt? Một ống khói khiến bầu trời thêm rõ ràng. Một người phụ nữ đã qua đời lấp đầy cả thế giới. Michiko từng nói, "những bông hồng anh trao em làm em thao thức bởi âm thanh của những cánh hoa rơi."
Miracle Fish
- Ada Limón I used to pretend to believe in God. Mainly, I liked so much to talk to someone in the dark. Think of how far a voice must have to travel to go beyond the universe. How powerful that voice must be to get there. Once in a small chapel in Chimayo, New Mexico, I knelt in the dirt because I thought that’s what you were supposed to do. That was before I learned to harness that upward motion inside me, before I nested my head in the blood of my body. There was a sign and it said, This earth is blessed. Do not play in it. But I swear I will play on this blessed earth until I die. I relied on a Miracle Fish, once, in New York City, to tell me my fortune. That was before I knew it was my body’s water that moved it, that the massive ocean inside me was what made the fish swim. ~ cá thần kỳ Trước tôi thường giả bộ tin vào Chúa. Chủ yếu vì tôi ưa chuyện trò cùng ai đó trong bóng tối. Nghĩ xem một giọng nói phải di chuyển bao xa để vượt qua vũ trụ. Giọng nói ấy phải mạnh mẽ đến nhường nào để tới được đó. Có lần, trong một nhà nguyện nhỏ tại Chimayo, New Mexico, tôi đã quỳ xuống đất bởi tôi nghĩ đấy là điều người ta nên làm. Đó là trước khi tôi biết cách chế ngự cái chuyển động hướng thượng trong mình, trước khi tôi đặt khẽ đầu mình vào máu huyết trong thân thể. Nơi đó từng có một tấm biển và nó viết, đất này là đất thiêng. Đừng chơi đùa trên đó. Nhưng tôi thề tôi sẽ chơi đùa trên mặt đất thiêng này cho tới ngày tôi chết. Một lần, ở New York City, tôi đã dựa vào một con cá thần kỳ để đoán số mệnh. Đó là trước khi tôi nhận ra rằng chính nước trong cơ thể mình đã xê dịch nó, rằng chính đại dương mênh mông trong tôi là thứ đã làm con cá bơi.
My Life Was the Size of My Life
- Jane Hirshfield My life was the size of my life. Its rooms were room-sized, its soul was the size of a soul. In its background, mitochondria hummed, above it sun, clouds, snow, the transit of stars and planets. It rode elevators, bullet trains, various airplanes, a donkey. It wore socks, shirts, its own ears and nose. It ate, it slept, it opened and closed its hands, its windows. Others, I know, had lives larger. Others, I know, had lives shorter. The depth of lives, too, is different. There were times my life and I made jokes together. There were times we made bread. Once, I grew moody and distant. I told my life I would like some time, I would like to try seeing others. In a week, my empty suitcase and I returned. I was hungry, then, and my life, my life, too, was hungry, we could not keep our hands off our clothes on our tongues from ~ cuộc đời tôi có cỡ của cuộc đời tôi. những căn buồng của nó có cỡ căn buồng, tầm hồn nó có cỡ một tâm hồn. trên nền nó, các ty thể ngân nga, bên trên nó mặt trời, những đám mây, tuyết, sự quá cảnh của các vì sao và các hành tinh. nó đi thang máy, những đoàn tàu cao tốc, nhiều loại máy bay khác nhau, một con lừa. nó mang vớ, mặc sơ mi, đeo đôi tai và chiếc mũi của riêng mình. nó ăn, nó ngủ, nó mở và khép đôi tay, những khung cửa sổ của nó. những người khác, tôi biết, có cuộc đời lớn hơn. những người khác, tôi biết, có cuộc đời ngắn hơn. bề dày các cuộc đời, cũng vậy, là khác biệt. có những lần đời tôi và tôi cùng làm trò. có những lần chúng tôi làm bánh. một lần, tôi trở nên ủ rũ và xa cách. tôi nói với đời mình tôi muốn có thời gian, tôi muốn thử gặp gỡ những cuộc đời khác. sau một tuần, chiếc va-li rỗng của tôi cùng tôi quay trở lại. tôi đói bụng, và rồi thì cuộc đời tôi, cuộc đời tôi, cũng đói bụng, chúng tôi chẳng thể giữ tay mình rời áo quần mình trên lưỡi mình khỏi
Ode to Friendship
- Noor Hindi _Edgewater Beach, 2019_ The night so warm I could fall in love with anything including myself. My loves. You are the only people I’d surrender my softness to. The moon so blue. And yes, what’s gold is gold. What’s real is us despite a country so grieved, so woke, so death. Our gloom as loud as shells. Listen. Even the ocean begs. Put your hands in the sand, my friend. It’s best we bury ourselves. What’s heavy. What’s heavy? Becomes light. ~ Tụng ca tình bạn Đêm thật ấm tới độ tôi có thể phải lòng với bất kì điều gì kể cả chính tôi. Tình yêu hỡi. Các bạn là những người duy nhất tôi sẵn sàng dâng nộp sự yếu đuối nơi mình. Trăng thật xanh. Và đúng, những gì vàng vẫn là vàng. Những gì thực thì là ta bất chấp một quốc gia quá đau buồn, quá tỉnh thức, quá chết chóc. Nỗi u sầu trong ta ầm vang như tiếng vỏ ốc. Hãy lắng nghe. Thậm chí đại dương cũng van nài. Hãy đặt bàn tay vào cát, bạn hỡi. Tốt nhất ta nên chôn vùi luôn chính mình. Những gì nặng trĩu. Những gì nặng nề? Thành ra nhẹ bẫng.
Old man leaves party
- Mark Strand It was clear when I left the party That though I was over eighty I still had A beautiful body. The moon shone down as it will On moments of deep introspection. The wind held its breath. And look, somebody left a mirror leaning against a tree. Making sure that I was alone, I took off my shirt. The flowers of bear grass nodded their moonwashed heads. I took off my pants and the magpies circled the redwoods. Down in the valley the creaking river was flowing once more. How strange that I should stand in the wilds alone with my body. I know what you are thinking. I was like you once. But now With so much before me, so many emerald trees, and Weed-whitened fields, mountains and lakes, how could I not Be only myself, this dream of flesh, from moment to moment? ~ Ông già rời bữa tiệc Đã rõ ràng khi ta rời bữa tiệc Rằng dù ngoài tám mươi ta vẫn có Một thân hình đẹp đẽ. Ánh trăng tỏa xuống như nó sẽ Vào khoảnh khắc của tự vấn thâm sâu. Con gió nín thở. Và nhìn xem, ai đó để lại một tấm gương tựa vào cây. Đảm bảo rằng chỉ có riêng mình, ta cởi áo. Những bông hoa cỏ gấu gật gù cái đầu gội ánh trăng. Ta trút bỏ quần và bầy chim ác là lượn quanh những cây gỗ đỏ. Dưới thung sâu con sông cọt kẹt chảy thêm lần nữa. Lạ lùng thay khi ta đứng một mình với thân thể này giữa chốn hoang vu. Ta biết người đang nghĩ gì. Ta cũng từng như người. Nhưng giờ đây Với bao điều trước mặt, bao cội cây xanh ngọc, cùng Những cánh đồng cỏ dại bạc trắng, những núi non và những hồ nước, làm sao ta có thể không Chỉ là chính mình, giấc mộng này của xác thịt, trong từng khoảnh khắc?
Our Two Silences
- Anna Swir Silence flows into me and out of me washing my past away. I am pure already, waiting for you. Bring me your silence. They will doze off nested in each other's arms, our two silences. (translated by Czeslaw Milosz and Leonard Nathan) ~ yên lặng tràn vào trong tôi và ra khỏi tôi cuốn trôi dĩ vãng tôi. tôi đã trong sạch rồi, đang đợi bạn. Mang tôi yên lặng của bạn. chúng sẽ gật gù ngủ ấp ủ trong vòng tay nhau, yên lặng đôi ta.
Piano Lesson
- richard siken when I was ten, I had an imaginary friend. He lived on pork and beans and played the viola. People would look at us and hear sad music, turn away. That’s pretty much how it was, what it was like, for most of 1977. A viola is slightly larger than a violin. It makes a deeper sound. The cello and the double-bass: larger and deeper still. All, like Pinocchio, have hollow wooden bodies, though Pinocchio has more strings and is hollow only metaphorically. Guitars have strings. Harps also. If a harp lay down and fell asleep and you bludgeoned its dreams with felted hammers, then you would have a piano. If you were wearing a tuxedo, you would have a grand piano. If you knocked a clock to the floor and left it there, on its back, staring at the ceiling, spinning slowly to its own sad music, then you would have a record player. Or a carousel, if you had horses, or luggage. A table turns into a barricade, a vase into a broken vase. The lazy Susan becomes the place where the lazy Susan used to be. Pinocchio wants to be a real boy. The real boy wants to be a robot. The dream of becoming. By 1699, although there were no pianos, some composers were already anticipating their arrival. Sheet music from the time shows notes too high or low to play on the harpsichord. By 1837, with some refinement of the pedals, a player could sustain the notes even after their hands had moved away. By the time I was eleven, I stopped being sad and started to be afraid. ~ khi tôi lên mười, tôi có một người bạn tưởng tượng. Cậu ấy sống bằng món thịt heo với đậu và chơi đàn viola. Người ta nhìn chúng tôi và nghe ra một thứ nhạc buồn, họ ngoảnh mặt đi. Đó gần như là cách mọi sự diễn ra, cái mọi sự là, trong phần lớn năm 1977. Đàn viola lớn hơn đàn violin chút đỉnh. Nó tạo ra âm trầm hơn. Đàn cello và double-bass: thậm chí lớn và trầm hơn nữa. Tất cả, giống như Pinocchio, đều có thân gỗ rỗng, dù rằng Pinocchio nhiều dây hơn và chỉ rỗng một cách ẩn dụ. Các loại guitar thì có dây. Đàn hạc cũng vậy. Nếu một chiếc đàn hạc nằm xuống và thiếp đi rồi bạn đập tan giấc mơ của nó bằng những cây búa nỉ, thì bạn sẽ có một chiếc piano. Nếu đang mặc một bộ tuxedo, thì bạn sẽ có một chiếc piano cánh. Nếu bạn đánh đổ cái đồng hồ xuống sàn rồi để nó ở đó, nằm ngửa, chằm chặp nhìn lên trần nhà, chầm chậm xoay theo điệu nhạc buồn của riêng nó, thì bạn có chiếc máy hát đĩa. Hay một cái carousel*, nếu bạn có những chú ngựa, hoặc hành lý. Cái bàn trở thành một vật cản, cái bình thành một cái bình vỡ. Mâm xoay trở thành nơi mâm xoay từng ở. Pinocchio muốn trở thành một cậu bé thực sự. Cậu bé thật sự thì muốn trở thành người máy. Giấc mộng của việc trở thành. Vào năm 1699, dù chưa có đàn piano, một vài nhà soạn nhạc đã liệu trước được sự xuất hiện của chúng. Tổng phổ thời đó cho thấy các nốt quá cao hoặc quá thấp để có thể chơi trên đàn harpsichord. Vào năm 1937, với một vài điều chỉnh ở bàn đạp, người chơi đã có thể kéo dài các nốt nhạc thậm chí sau khi tay họ rời phím. Tới khi mười một tuổi, tôi thôi buồn rầu và bắt đầu lo sợ. carousel*: vòng quay ngựa gỗ đồng thời là băng chuyền lấy đồ ở sân bay.
rain light
- W.S. Merwin All day the stars watch from long ago my mother said I am going now when you are alone you will be all right whether or not you know you will know look at the old house in the dawn rain all the flowers are forms of water the sun reminds them through a white cloud touches the patchwork spread on the hill the washed colors of the afterlife that lived there long before you were born see how they wake without a question even though the whole world is burning ~ ánh mưa suốt ngày dài những vì sao từ xa xưa canh gác mẹ tôi nói rằng mẹ phải đi ngay lúc này khi con còn một mình con sẽ vẫn ổn dù con hiểu hay không thì rồi con sẽ hiểu hãy trông căn nhà cũ trong mưa buổi sớm tất cả những bông hoa đều là hình trạng của nước mưa mặt trời gợi chúng nhớ qua một làn mây trắng chạm vào tấm vải vá trải ra trên ngọn đồi những màu sắc đã được gột rửa của kiếp sau từng sống ở đó rất lâu trước lúc con chào đời hãy nhìn chúng thức giấc mà không một câu hỏi thậm chí khi cả thế gian đang rực cháy
stationery
- agha shahid ali the moon did not become the sun. it just fell on the desert in great sheets, reams of silver handmade by you. the night is your cottage industry now, the day is your brisk emporium. the world is full of paper. write to me. ~ văn phòng phẩm mặt trăng không trở thành mặt trời. nó cứ vậy rải lên hoang mạc những tờ lớn, những tập bạc người làm bằng tay. lúc này đêm là ngành tiểu thủ công, ngày là cửa hàng tấp nập. thế gian ngập tràn giấy. hãy viết gửi tôi.
The Abandoned Valley
- Jack Gilbert Can you understand being alone so long you would go out in the middle of the night and put a bucket into the well so you could feel something down there tug at the other end of the rope? ~ thung lũng bỏ quên bạn có hiểu cảm giác cô đơn quá lâu tới nỗi bạn phải ra ngoài giữa đêm thâu và đặt một chiếc xô vào lòng giếng chỉ để cảm thấy điều gì đó dưới đấy giật nhẹ nơi phía đầu kia sợi dây?
The City
- C. P. Cavafy You said: “I’ll go to another country, go to another shore, find another city better than this one. Whatever I try to do is fated to turn out wrong and my heart lies buried like something dead. How long can I let my mind moulder in this place? Wherever I turn, wherever I look, I see the black ruins of my life, here, where I’ve spent so many years, wasted them, destroyed them totally.” You won’t find a new country, won’t find another shore. This city will always pursue you. You’ll walk the same streets, grow old in the same neighborhoods, turn gray in these same houses. You’ll always end up in this city. Don’t hope for things elsewhere: there’s no ship for you, there’s no road. Now that you’ve wasted your life here, in this small corner, you’ve destroyed it everywhere in the world. (Translated by Edmund Keeley) ~ thành phố Bạn nói: "Tôi sẽ tới một xứ sở khác, đến một bến bờ khác, tìm một thành phố khác tốt đẹp hơn chỗ này. Bất kể chuyện gì tôi cố làm cũng thành ra lầm lỗi và con tim tôi nằm chôn vùi như điều gì đó đã qua đời. Tôi có thể để tâm trí mình mục rữa tại chốn này thêm bao lâu nữa? Bất kể nơi nào tôi quay đầu, bất kể tôi nhìn đâu, tôi đều thấy những đổ nát tăm tối của đời mình, tại đây, nơi tôi đã tiêu hao bao năm tháng, phung phí, phá hủy chúng hoàn toàn." Bạn sẽ không tìm ra xứ sở nào mới, sẽ chẳng thấy bến bờ nào khác, Thành phố này sẽ mãi mãi đeo đuổi bạn. Bạn sẽ vẫn bước đi trên những con phố ấy, già đi cùng những xóm giềng ấy, bạc đầu trong những căn nhà ấy. Bạn sẽ luôn kết thúc ở chính thành phố này. Đừng mong mỏi vào những gì nơi khác: không có con tàu nào cho bạn, chẳng con đường nào hết. Giờ khi đã phung phí cuộc đời mình tại đây, trong góc nhỏ này, thì bạn đã phá hủy nó ở mọi nơi trên thế giới.
The Letter
- Linda Gregg I’m not feeling strong yet, but I am taking good care of myself. The weather is perfect. I read and walk all day and then walk to the sea. I expect to swim soon. For now I am content. I am not sure what I hope for. I feel I am doing my best. It reminds me of when I was sixteen dreaming of Lorca, the gentle trees outside and the creek. Perhaps poetry replaces something in me that others receive more naturally. Perhaps my happiness proves a weakness in my life. Even my failures in poetry please me. Time is very different here. It is very good to be away from public ambition. I sweep and wash, cook and shop. Sometimes I go into town in the evening and have pastry with custard. Sometimes I sit at a table by the harbor and drink half a beer. ~ Lá thư Tôi vẫn chưa khỏe lắm, nhưng tôi đang tự chăm mình thật tốt. Thời tiết thật tuyệt. Tôi đọc và dạo bộ cả ngày rồi đi ra biển. Tôi hy vọng sẽ sớm được bơi. Còn bây giờ tôi thấy bằng lòng rồi. Tôi không chắc mình hy vọng điều gì. Tôi cảm thấy đã làm hết sức. Nó gợi tôi nhớ đến hồi mười sáu tuổi mơ mộng về Lorca, những hàng cây hòa nhã ngoài trời và con suối nhỏ. Có lẽ thơ ca thay thế trong tôi thứ gì đó người khác đón nhận thật tự nhiên. Có lẽ hạnh phúc nơi tôi chỉ ra một thiếu sót trong cuộc đời tôi. Ngay những thất bại của mình trong thơ cũng khiến tôi hài lòng. Thời gian nơi đây rất khác. Thật tốt khi được xa rời những tham vọng chung. Tôi quét dọn cùng giặt giũ, nấu nướng với đi chợ. Đôi khi tôi vào thị trấn lúc tối trời và ăn bánh bột nhồi nhân kem trứng. Đôi khi tôi ngồi bên chiếc bàn nơi bến cảng và uống nửa cốc bia.
The Loneliest Job in the World
- Tony Hoagland As soon as you begin to ask the question, Who loves me? you are completely screwed, because the next question is How Much? and then it is hundreds of hours later, and you are still hunched over your flowcharts and abacus, trying to decide if you have gotten enough. This is the loneliest job in the world: to be an accountant of the heart. It is late at night. You are by yourself, and all around you, you can hear the sounds of people moving in and out of love, pushing the turnstiles, putting their coins in the slots, paying the price which is asked, which constantly changes. No one knows why. ~ công việc cô đơn nhất trên đời Ngay khi bạn bắt đầu đặt câu hỏi, Ai yêu tôi? là bạn đã hoàn toàn tiêu đời, bởi Tới Nhường Nào? sẽ là câu kế tiếp và rồi hàng trăm giờ sau đó, và bạn vẫn cúi người trên bàn tính cùng những lưu đồ, gắng quyết xem mình đã kiếm đủ chưa. Đây chính là công việc cô đơn nhất trên đời: trở thành kế toán viên cho trái tim. Đêm đã khuya. Bạn ở một mình, và xung quanh mình, bạn có thể nghe thấy tiếng người ta đi vào và ra khỏi tình yêu, đẩy các cửa quay, nhét những đồng xu của họ vào rãnh, trả cái giá được yêu cầu, cái liên tục đổi thay. Không ai hiểu do đâu.
The Presence In Absence
- Linda Gregg Poetry is not made of words. I can say it's January when it's August. I can say, "The scent of wisteria on the second floor of my grandmother's house with the door open onto the porch in Petaluma," while I'm living an hour's drive from the Mexican border town of Ojinaga. It is possible to be with someone who is gone. Like the silence which continues here in the desert while the night train passes through Marfa louder and louder, like the dogs whining and barking after the train is gone. ~ sự hiện diện trong thiếu vắng Thơ ca không làm bằng ngôn từ. Tôi có thể nói rằng tháng Giêng trong khi là tháng Tám. Tôi có thể nói, "Hương thơm hoa tử đằng trên tầng hai của nhà bà tôi với cánh cửa mở ra hiên ở Petaluma," trong khi tôi đang sống cách thị trấn biên giới Ojinaga của Mexico một giờ lái xe. Có thể ở bên ai đó đã rời xa. Như sự yên lặng vẫn tiếp tục nơi đây trên sa mạc khi đoàn tàu đêm ghé qua Marfa càng lúc càng ầm ĩ, như tụi chó rên rỉ và sủa vang khi đoàn tàu đã rời đi.
The Thing Is
- Ellen Bass to love life, to love it even when you have no stomach for it and everything you’ve held dear crumbles like burnt paper in your hands, your throat filled with the silt of it. When grief sits with you, its tropical heat thickening the air, heavy as water more fit for gills than lungs; when grief weights you down like your own flesh only more of it, an obesity of grief, you think, How can a body withstand this? Then you hold life like a face between your palms, a plain face, no charming smile, no violet eyes, and you say, yes, I will take you I will love you, again. ~ điều quan trọng là yêu cuộc sống, yêu nó ngay khi bạn chẳng còn bụng dạ nào cho nó và tất cả những gì bạn trân quý vỡ vụn như giấy cháy tàn trên tay, họng bạn ngập đầy tro bùn của nó. khi đau buồn ngồi bên bạn, hơi nóng ẩm của nó nặng tựa nước, đặc quánh cả không trung, hợp để thở bằng mang hơn là phổi; khi đau buồn đè nặng bạn như chính da thịt bạn có điều nhiều hơn, một căn bệnh béo phì của buồn đau bạn nghĩ, sao thân thể chịu đựng nổi điều này? rồi bạn nâng cuộc sống như nâng một khuôn mặt, giữa lòng bàn tay bạn, một khuôn mặt đơn sơ, không nụ cười duyên dáng, chẳng mắt tím mộng mơ, rồi bạn nói, được, ta sẽ đón nhận ngươi ta sẽ yêu ngươi, thêm lần nữa.
The Traveling Onion
- Naomi Shihab Nye “It is believed that the onion originally came from India. In Egypt it was an object of worship —why I haven’t been able to find out. From Egypt the onion entered Greece and on to Italy, thence into all of Europe.” — Better Living Cookbook When I think how far the onion has traveled just to enter my stew today, I could kneel and praise all small forgotten miracles, crackly paper peeling on the drainboard, pearly layers in smooth agreement, the way the knife enters onion and onion falls apart on the chopping block, a history revealed. And I would never scold the onion for causing tears. It is right that tears fall for something small and forgotten. How at meal, we sit to eat, commenting on texture of meat or herbal aroma but never on the translucence of onion, now limp, now divided, or its traditionally honorable career: For the sake of others, disappear. --- du hành "Người ta tin rằng hành tây có nguồn gốc từ Ấn Độ. Tại Ai Cập nó từng là vật được tôn thờ - lý do tại sao tôi chưa thể tìm ra. Từ Ai Cập hành tây đã du nhập vào Hy Lạp rồi qua Ý, từ đó tới khắp Châu Âu." – Better Living Cookbook Khi tôi nghĩ tới việc hành đã vượt bao xa chỉ để vào nồi hầm của tôi hôm nay, tôi có thể quỳ gối và ngợi ca tất cả những phép màu nhỏ bé bị quên lãng, vỏ giấy lạo xạo trên tấm úp bát, những lớp ngọc trai trong sự đồng thuận nhịp nhàng, cách lưỡi dao xuyên vào hành rồi hành rơi thành mảnh trên thớt, một lịch sử lộ ra. Và tôi sẽ chẳng bao giờ trách hành đã gây ra những giọt nước mắt. Thật đúng khi nước mắt rơi vì những gì bé nhỏ bị quên lãng. Cách mỗi bữa ăn, chúng ta ngồi, nhận xét về kết cấu của thịt hay hương thơm thảo mộc nhưng chẳng bao giờ về sự trong mờ của hành, giờ đã mềm rũ, giờ đã bị chia tách, hay sự nghiệp truyền thống đáng kính của nó: Vì lợi ích của những gì khác, mà mất đi.